image banner
Xã Na Mèo tham dự hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57

Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia diễn ra vào chiều ngày 1/7/2026. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Hội nghị.

Anh-tin-bai

Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị.

Tham dự Hội nghị có: Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương;…Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu Trung tâm-Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội tới 3.662 điểm cầu tại các bộ, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị với tổng số trên 568.380 đại biểu tham dự.

Anh-tin-bai
Anh-tin-bai
Anh-tin-bai
Anh-tin-bai
Anh-tin-bai
Anh-tin-bai
Anh-tin-bai

Các đại biểu dự tại điểm cầu xã Na Mèo

  Đồng chí Hà Thị Tuyến - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã, chủ trì tại điểm cầu Đảng ủy - MTTQ xã Na Mèo. Cùng tham dự có các đồng chí Phạm Đức Lương - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã; Lương Văn Thủy - Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã; các đồng chí Ủy viên BTV, BCH Đảng bộ xã; Trưởng, Phó các phòng, ban, ngành, đơn vị; Bí thư, Trưởng bản về dự. Theo chương trình, Hội nghị nghe đồng chí Nguyễn Hải Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng trình bày tóm tắt Báo cáo sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định:Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nghị quyết nêu rõ quan điểm chỉ đạo là: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế-xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.

Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nhân, doanh nghiệp và nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Xác định đây là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài với những giải pháp đột phá, mang tính cách mạng. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật bảo đảm yêu cầu quản lý và khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy "không quản được thì cấm". Chú trọng bảo đảm nguồn nhân lực trình độ cao cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; có cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài. Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc "hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí"; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu.

Phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; ưu tiên nguồn lực quốc gia đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ Việt Nam gắn với nhanh chóng tiếp thu, hấp thụ, làm chủ và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, chú trọng nghiên cứu cơ bản, tiến tới tự chủ và cạnh tranh về công nghệ ở một số lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng, lợi thế. Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Nghị quyết đề ra mục tiêu đến năm 2030: Tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới; một số lĩnh vực khoa học, công nghệ đạt trình độ quốc tế. Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%; tỉ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt tối thiểu 50%. Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP. Tỉ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%. Tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần quan trọng xây dựng, phát triển giá trị văn hoá, xã hội, con người Việt Nam, đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7. Kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Hệ thống tổ chức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo được sắp xếp lại bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu-ứng dụng-đào tạo.

Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; có từ 40-50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16-18%/năm, tỉ lệ khai thác thương mại đạt 8-10%. Hạ tầng công nghệ số tiên tiến, hiện đại, dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng ngang tầm các nước tiên tiến; từng bước làm chủ một số công nghệ chiến lược, công nghệ số như: Trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, bán dẫn, công nghệ lượng tử, nano, thông tin di động 5G, 6G, thông tin vệ tinh và một số công nghệ mới nổi. Phủ sóng 5G toàn quốc.

Hoàn thành xây dựng đô thị thông minh đối với các thành phố trực thuộc Trung ương và một số tỉnh, thành phố có đủ điều kiện. Thu hút thêm ít nhất 3 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam. Quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trên môi trường số, kết nối và vận hành thông suốt giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu các ngành; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số, hình thành sàn giao dịch dữ liệu. Phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hoá số đạt mức cao của thế giới. Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu.

Về tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết nêu rõ: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển vững chắc, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tỉ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển; tối thiểu có 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Thu hút thêm ít nhất 5 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam.

Anh-tin-bai

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

    Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương ghi nhận, đánh giá cao nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học và Nhân dân trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, sau hơn 1 năm triển khai, nghị quyết đã tạo chuyển biến rõ nét về nhận thức, từng bước hình thành các nền tảng thể chế, cơ chế, chính sách và định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số của đất nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu. Nhiều hạn chế, điểm nghẽn vẫn chưa được tháo gỡ, nhất là thể chế, cơ chế chính sách, hạ tầng số, dữ liệu, nguồn nhân lực và nguồn lực đầu tư. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, mục tiêu cuối cùng của Nghị quyết số 57-NQ/TW không phải là xây dựng thêm các nền tảng hay ban hành thêm văn bản, mà phải tạo ra sản phẩm, giá trị mới, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, cải thiện chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Chuyển đổi số phải gắn chặt với đổi mới phương thức quản trị quốc gia, quản trị địa phương, cải cách thủ tục hành chính, phát triển sản xuất, kinh doanh và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chuyển mạnh tư duy từ “làm cho có” sang lấy kết quả, hiệu quả và sản phẩm cụ thể làm thước đo. Mỗi chương trình, dự án phải xác định rõ sản phẩm đầu ra, hiệu quả mang lại cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế; tránh tình trạng đầu tư dàn trải, hình thức hoặc triển khai nhưng không đưa vào khai thác, sử dụng hiệu quả.

    Nhấn mạnh vai trò của người đứng đầu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu bí thư cấp ủy, người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển đất nước. Đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả bằng các chỉ tiêu cụ thể, định lượng, gắn trách nhiệm với từng cơ quan, đơn vị và cá nhân. Đối với các bộ, ngành ở Trung ương, yêu cầu khẩn trương rà soát, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp lý; mạnh dạn đề xuất các cơ chế thí điểm, cơ chế vượt trội đối với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cùng với đó, đẩy nhanh xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành; bảo đảm kết nối, chia sẻ, khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đối với các địa phương, yêu cầu phát huy tính chủ động, sáng tạo, trên cơ sở điều kiện thực tiễn lựa chọn những nhiệm vụ trọng tâm, công nghệ phù hợp để giải quyết các bài toán phát triển của địa phương; lấy hiệu quả quản trị, phục vụ người dân, doanh nghiệp làm mục tiêu xuyên suốt, không chạy theo phong trào hoặc đầu tư theo hình thức.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị cộng đồng doanh nghiệp tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ mới; tham gia xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, hình thành các doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, đóng vai trò dẫn dắt quá trình chuyển đổi số quốc gia. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng yêu cầu đổi mới mạnh mẽ cơ chế phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; tạo điều kiện để đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia, trí thức trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, chuyển giao công nghệ; xây dựng các cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài; tăng cường gắn kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp nhằm đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu trong thời gian tới toàn hệ thống chính trị phải hành động với quyết tâm cao hơn, trách nhiệm lớn hơn, triển khai các nhiệm vụ với tinh thần khẩn trương, quyết tâm hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, lấy kết quả cụ thể làm thước đo. Các bộ, ngành, địa phương phải tập trung tháo gỡ khó khăn, huy động mọi nguồn lực để đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới./.

Phạm Bá Thống - Trung tâm cung ứng dịch vụ công xã Na Mèo
Từ khóa
Tin nổi bật
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement

image advertisement

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

CƠ QUAN CHỦ QUẢN: UBND Xã Na Mèo
Địa chỉ: Bản Xộp Huối, Xã Na Mèo, tỉnh Thanh Hóa
Email: nameo@thanhhoa.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Lê Văn Thơ; Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã.
Ghi rõ nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa xã Na Mèo hoặc nameo.thanhhoa.gov.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.

Website được thiết kế bởi VNPT